Thứ Tư, 11 tháng 8, 2010

Anh Vịt Kiều và củ khoai thứ mười - hoi nghi dien hong 13:

Lão ngồi đó. Ngồi ngay chính cái ghế Lão vẫn thường ngồi. Lão ngồi rụt hắn lưng vốn đã còng nay lại càng thêm vì tiếng cười Đát - Kỷ. Tiếng cười nghe rất tự nhiên, tiếng cười như không màng đến thế sự, nhưng thật ra nó làm cho người ta liên tưởng đến cảnh tan nát, sụp đổ.

Nhưng hình chung Mụ cũng đã nhận thức được cái thực tế cuộc sống, cái xã hội mà Mụ đã trở về. So với trước đây. Lúc mụ chưa đi ra khỏi cái thôn nầy thì cách ăn nói của mụ khác. Bây giờ, khi lão có tình gióng đôi tai già yếu lên nghe. Cái đôi tai bây giờ cố gắng lắm vẩn chí nghe câu được câu chăng, nhiều lúc nó như cây " antenna" nhiễu sóng, ù ù chốc chốc lại bì bỏm. Lão cố nghe và nhận định sự khác biệt. Lão nghe nói đến chú Sáu, nghe nói về cái tự do và an sinh xã hội. 
Cô nầy thế mà khá. Lão tự nhủ thầm với chính mình. Tuy bề ngoài như thế nhưng còn hơn cái thằng Dô - Li hay Dô - La gì đó. Mụ còn tìm về quê hương, sống hòa nhịp như khi mụ từng lớn lên và đấu tranh cho công bằng xã hội, cố gắng cho người ta biết cái tự do đích thực. Hay chính ra mụ không thể bỏ nó, mụ cũng chắc quên cái chân chất, thật thà... Thành ra trong Lão, Mụ vẩn còn đẹp chán.

Nhắc đến cái thằng Dô - li. Cái thằng một năm trước về đây thăm Lão. Cái thằng nghe nói là người yêu của con gái Lão bên kia. Nói người yêu thôi. Chứ đã sống như vợ chồng lâu lắm rồi, bọn nó chí còn chờ cái cưới xin cho nó bình thường như những người khác thôi. Cái thằng một năm trước nhân dịp về Việt Nam đã ghé thăm Lão. 

Lão nhớ rõ lắm. Nhớ rõ cái hành động Lão đuổi cố nó ra khỏi nhà lão, khi Lão thấy cái quan niệm sống, cách sống... Trong con người kia khó mà chấp nhận. Lão nhớ lại cái ngày hôm đó.


Sau hai hôm, tính từ khi con gái Lão gọi về bảo lão ra đón nó. Cái con chẳng ra gì. Sao lão phải ra. Lão đón ai? Ai là người Lão phải đón?. Nghe qua Lão buồn lắm. Nhưng thôi. lão sai thằng Tư hôm sau đưa cái " xe hơi" rách nát hiệu " corrona - toyota " gia đình ra đón nó.

Cái thằng. Chưa tới nhà, khi chiếc xe đang ở bên kia cầu. Nó xuống xe đi bộ vào nhà cùng thằng tư con trai Lão. 

Hôm đó Lão vẩn ngồi đây như thường lệ. Nó vào nhà, Lão ngồi đó. Nó tự nhiên như chổ không người, cởi nốt cái áo phông thành trần trục trục ngồi xuống đối diện Lão.

- Nóng quá, nóng quá.

Cái thái độ đó đã làm cho Lão bắt đầu khó ưa. Lão quay qua bảo vợ Lão, đang ngồi cạnh Lão.

- Mẹ mầy ra hỏi ông trời xem. Sao nóng thế. 

Chị vợ sống bao năm với Lão biết tỏng Lão nói ai rồi. Nên chí biết nín thinh.

Lão tiếp.

- Tư ơi ! Con đem Anh ra sau nhà. Lấy nước cho Anh tắm rửa cho mát đi con.

Chưa đầy năm phút sau, Lão đã nghe tiếng la của nó từ sau vọng tới. 

- Nước bẩn quá, bẩn quá.

Cái thằng nầy. Cả cái làng nầy ai cũng biết nhà Lão đã dùng lọc nước, dùng kỷ nghệ của Phần - lan hẳn hoi. Chẳng qua là cái lu Lão vẩn để dùng. Cái lu bao năm nay vẩn làm tốt cái công việc của nó. Gần đây nó chí toàn đựng nước sạch, cái nước được chiết xuất từ kỷ nghệ mới. Không phải là thứ nước được múc ở cái cầu ao tắm giặt, rồi đánh phèn lên ăn như hồi xưa đâu mà kêu dơ, kêu bẩn.

Cái dáng trùng trục, cái đầu tròn lông lốc, không một cọng tóc đã nói lên cái tính đầu trâu khó bảo. Nó đi thắng lên phòng khách, đứng trước mặt lão. Chống mông vào mặt Lão, khi nó cúi xuống lấy cái chai nước nhản hiệu La - Vi của Việt Nam. Nó đứng đó, tay cầm cái chai tu ừng ực. Văn hóa quá ....

Lão đổi chất giọng , lão nhỏ nhẹ:

- Đồ - Lỳ ở Việt Nam quê ở đâu?

- Con ở " Hà Lam Linh ". Nó trả lời.

À ra thế. Nó, chính nó đã được sinh ra nơi cái vùng quê Bắc Bộ, cái vùng cũng không xa Hà Nội là mấy. Con người Bình Lục không phải là loại không biết sống. 
Lão nghĩ : Sao nó có thể quên được, trong lúc mọi người cố quên mà hổng thế quên.

Ai chứ Hà Nam, Nam Định, Thái Bình thì Lão biết. Cái biết của một thiếu tá thì quá rõ. Cái vùng quê được ví " chín củ thành mười " nầy rất là chịu khó. Cái thằng hư thân mất nết nầy không thể không biết.

Cái tấm thân to khoẻ, trắng trẻo kia có được là do ăn đúng củ khoai thứ mười chăng?


Cũng sau câu nói đó. Lão thở dài. Số phận và hy vọng. Cái hy vọng cho chính tương lai con cháu, niềm tin của chính Lão mất hết rồi chăng?

Lão nhìn chằm chặp vào thằng Do - Li Đồ - Lì, con mắt Lão trừng trừng nhìn đến phát khiếp. Con mắt ấy nhìn một hồi lâu mà không hề chớp.

Đúng, đúng rồi. Đúng là người Việt.

Nhưng đâu phải riêng nó. Hay củng đâu phải thời nay nó thế. Củng đâu phải thời Lão? Lão tự hỏi bản thân. Cùng thời với Lão có những con người một tuần ngồi trên phi cơ bay khắp bầu trời. Đi qua cả những nơi có nền văn minh bậc nhất. Nói về thời đó có ai nói Mỹ văn minh nhất đâu. Kiệt tác thế giới hầu như ở Pháp mà.

Thế nhưng khi họ về. Đặc biệt vào những lúc hành quân. Ví dụ như năm 1972 thì sao. Những con người từ chốn văn minh ấy sẳn sàng chui lúi chốn rừng sâu. Họ ăn lá rừng, uống nước suối, nước khe. Có người để sống đã uống nước ở vết chân con hươu con nai để lại. Họ có bẩn có dơ không? Chính vì thế họ đã vẽ lên hình tượng " Quan Tài Ba Đèn Cầy ". Quang vinh một cõi.

Đó là cách sống, chân lý sống và quan hệ sống. Cũng ở chốn văn minh, sao Đồ _ lì nầy không được đào tạo. Có thể chờ mong vào lớp người nầy không? Đất nước rồi sẽ có ai.

Lão buồn quá, cái nhìn trừng trừng giờ đã sập xuống. Lão nói với vợ với giọng thiểu não, u uất, nặng nhọc...

Bà nói mấy đứa con. Ra ngoài thuê cái xe tôn tốt , rồi chở nó về Sài Gòn. Xong thuê cho nó cái khách sạn tứ tế cho nó ở.
Thanh toán tiền cho nó. Khi nào nó ra phía Bắc thì thôi.
Cho nó đi ngay. Tôi mệt lắm.

Ngay sau đó. Một chiếc Pra _ Do từ hướng núi sập phóng vút đi. Khói bụi mịt mờ. Bỏ lại sau lưng mâm cơm dọn dở và công của người Mẹ chân quê.


Lão Tư Công: Hội nghị Diên Hồng về cái lưỡi bò 12:

Thời gian trôi đi. Ba đứa con ở nhà với Lão cũng lớn lên trông thấy. Mới đấy mà con Cua út của Lão đã ngoài hai nhăm. Cái con giống y như Mẹ nó. Suốt ngày tíu tít, công việc túi bụi. Nó lo công lo việc quá, chẳng để ý đến chuyện tình yêu tình báo bao giờ. Lão đâm ra lo. Con gái đến thì cứ như trái bom nổ chậm ấy. Nhưng nếu nó nổ thì cũng vui, đàng nầy mãi chắng thấy nó chịu nổ. Có lẽ nên bàn tính với bà ấy chuyện nầy xem sao.

Khoảng thời gian đi tù cộng sản làm Lão bỏ hẳn rượu. Sáng nay tự tay pha trà uống. Lão vừa uống trà vừa nhìn vợ con Lão bán buôn. Mấy mẹ con tự đùm bọc lẫn nhau trong thời gian Lão ở tù nên cuộc sống gia đình Lão cũng khá. Hai đứa Anh nó cũng đã có vợ có con, nhà cửa đàng hoàng. Chúng cùng với mẹ nó hình thành nên cái dịch vụ buôn bán quần áo, phân bón nông nghiệp và xăng dầu cho thị trấn nầy.

Lão công nhận vợ Lão rất khá. Cái cô Yến ngày xưa đã thế. Rõ ràng là Lão có chọn người, nên đời Lão cũng thoái mãi. Được cái vợ Lão rất hiếu lão....
Chí có hai đứa ra đi cùng chú Sáu làm lão lo thôi :
Lão nhìn ra cái cầu treo trước ngõ. Nói là cầu treo thôi nhưng nó đã được bê tông hóa. Cái cầu chí có ở miệt sông nước nầy mới có. Cầu rộng một thước tây, nhưng cái chiều cao thì khỏi tả. Cao ngất ngưởng, lại không có lan can. Người ta thường bảo đi qua cầu. Quê Lão phải gọi là lên cầu và xuống cầu mới đúng. 
Nhìn cái cầu là thế. Nhưng con Cua Út nhà nầy cứ cái honda 50 chạy vù vù làm tim Lão nhảy lên từng chập.

Lão nhớ hồi xưa chí có mấy cây tre mà thằng lớn suốt ngày cứ nghịch cái cầu đó. Bây giờ chắc có cầu xanh xanh đỏ đỏ nên mãi chưa thấy về. 

Nghe nói Chú Sáu bên kia làm ăn cũng chẳng ra sao. 

Cái gì cũng có hội có thuyền chứ. Cái nầy có lẽ phải học người Trung Quốc. Khổ nỗi người Việt mình khó mà thực hiện. Vợ chú ấy làm móng chân móng tay còn được, nhưng Chú ấy làm thì phí quá. Lão không tưởng tượng được . Khi người Gio Thái họ hành nghề cắt tóc thì họ nắm đầu thiên hạ, cấm ai dám rục rịch khi họ cạo mặt, họ bảo ngước lên là phải nhìn lên, họ bảo quay đầu là phải quay, cúi xuống là phải cúi xuống . 

Đàng nầy cái nghề cắt móng chân thì ngược lại . Quỳ gối, hay ngồi thật thấp . Khách hàng ngồi ghế cao. Họ đưa chân lên ngang với mặt mình cho mình cắt . Các bà lại hay mặc váy ngắn nữa chứ . Chết thật, cái khúm núp là thế . Nó không cho con người ta ngấn mặt lên được . Cái quỵ lụy không phải là bản năng gốc của người Việt mình . 
Đại úy mưu lược thế mà phải làm móng chân móng tay cho bọn Mễ ư. chẳng qua cái gọi là thời thế. Thế thời, thời phải thế .

Qua thư Lão biết hai đứa con Lão cũng chẳng học hành gì. Tốt nghiệp tú tài xong thì đứa con gái Lão làm cái nghề " neo hay nail... " gì ấy. Thằng lớn phụ bếp cho một nhà hàng tại phố ấm thực người Hoa. Nghe nói cuộc sống cũng tạm ổn.
Chí có điều lão mong được gặp bọn nó một lần mà e khó quá.
Lão lại nhìn ra chiếc cầu. Nơi chính Lão đã đưa hai đứa con Lão ra đi 30 năm về trước.


Đầu óc đang nghĩ vẩn vơ làm thơ làm thẩn, đùng một cái tiếng ai như tiếng chậu vở ly rơi. Tiếng gọi phá tan cái không khí buôn bán thường nhật trước cái ki - ốt nhà Lão.

Anh Tư.... Anh Tư....

Đúng là tiếng con mụ Tám. Cái con mụ chưa thấy người đã thấy tiếng. Lão nhong cái con mắt đã sập xuống vì tuổi già lên nhìn mãi. Lão nhìn hồi lâu về hướng chân cầu, một lúc sau mới thấy bóng dáng của mụ lộ dần, lộ dần.

Cái kiểu uốn khúc mình xà nầy cũng một thời làm no con mắt Lão. Bây giờ nhìn lại dáng kiều vẩn thế. Nhưng cái uốn khúc thời con gái nó dịu dàng thanh mai, bây giờ với cái thân hình sồ sề mập ú mà dáng đi nầy tạo thành cái lắt lẽo, cái chiếm dụng không gian, thực thực hư hư đến hoa cả mắt. Đã thế đi kèm với cái chất giọng xé lụa làm đinh tai nhức óc người đối diện. Khuôn mặt chãy sệ vì mỡ nên khó mà đoán được tuổi, không thể đoán được cầm tin con gì. Trong mười hai con giáp có con nào giống.

Anh Tư có nhà hông ta?

Rõ ràng mụ Tám đã thấy Lão ngồi đó, như thường lệ vào buổi sáng. Cái thường lệ bao năm tính từ ngày ở tù về là thế. Sáng ra, pha trà, nhìn vợ con bán buôn là công việc của Lão.

Tui đây. Bà Tám chắc có việc?

Lão hỏi thế thôi , chứ biết tỏng mụ Tám thì có việc gì. Chẳng qua là xem xem nếu có Lão ở nhà thì Mụ khó lòng mà buôn dưa lê, bán thịt chó được. Cái con Mụ vô duyên nhưng lắm lời nầy mà mai mối cho ai. Có giỏi thì mai mối cho chính Mụ đi.

Nhắc đến làm mai thì có lẽ phải kể đến 15 năm về trước. Mụ Tám thời đó trẻ trung hơn. Nhan sắc thì củng dể coi hơn bây giờ tý. Củng do mai mối mà mụ về làm dâu xứ ngoại. Nghe nói mụ lấy thằng Tây thì phải.
Lão nghe qua cũng đủ biết chắc phải có nguyên do gì gì ấy chứ. Lão đoán mò một là thằng nầy sứt môi lồi rốn, hai là có tật bẩm sinh ở mắt... Đại loại thế. Mà Lão đoán đúng thật.

Đùng cái, bốn năm sau Mụ trở về. Hỏi ra mới biết thằng Tây nó lấy mụ về để chăm sóc cho ông nội nó nằm liệt giường, nghe nói do té xe. Lấy mụ về nuôi ăn khỏi phải trả lương.
Thế là nó khôn. Mụ một chữ tiếng Anh không biết. Lỡ nó có hỏi :

" Do y-ou need mon-ey?"

Lại nghe nhầm thành:

" uôn - xà - lanh - mông - te ".

Học lõm được người Khơ Me ở dưới quê thì bỏ mẹ.


Lão Tư Công: Hội nghị Diên Hồng về cái lưỡi bò 11:

Tư Lão Công:

Lão Tư, quê ở Tiền Giang nhưng trước năm 1975 đi lính ở An Giang mà thời đó người ta quen gọi là tứ giác Long Xuyên. Cái duyên của Lão với An Giang có lẽ cũng bắt đầu từ khi đơn vị Công Binh chiến đấu số..5 - VNCH được thành lập. Lão nhớ khoảng vào những năm 1952 đến 1956 thì phải. Sau nầy là quân số của Giang Đoàn 25, nằm trong sự chí huy trực tiếp của thiếu tá : Trần Thế Tráng.
Trong một dịp hành quân xuống phía tây Lão đã bén duyên với cái cô Yến bán hàng cạnh cái bến Ninh Kiều - Cần Thơ. Cái vùng sông nước lắm tôm cua, con người đằm thắm mặn mà nầy giữ luôn chân Lão.

Đơn vị hành quân thì vợ con Lão cũng hành quân. Đơn vị đi An Giang, vợ con Lão cũng đi An Giang. Cả nhà Lão đánh giặc... Và cái duyên với An Giang như một định mệnh. Khi chiến trường Cam Bốt cầu viện quân ta. Đơn vị Lão lên đường chiến đấu theo hướng núi sập, vợ con Lão cũng theo hướng ấy mà thắng tiến.
Cái thời con người còn coi trọng lợi ích quốc gia dân tộc là thế đó. Gia đình Lão làm gì biết đến ngày mai ra sao. Ai còn ai mất? Ai đưa tiến ai?...Nói chung mụ vợ Lão cũng đã xác định rất rõ về cuộc sống của trai thời chiến.

Thời gian đóng quân ở đây cũng là thời gian vợ chồng Lão đón đứa thứ nhất. Cu cậu mới ra đời đã nhiễm cái tính lẳng tử phiêu bồng của Ba, cái tính nhanh nhẹn của vợ nên suốt ngày cứ bi ba bi bô... Không khí gia đình Lão ấm hắn lên. Lão nhận thức dần trách nhiệm của mình đối với quốc gia, gia đình và cuộc sống.

Cũng từ đó sáng ra Lão lên đơn vị, trừ những hôm trực chiến, còn lại Lão về gia đình phụ vợ buôn bán nuôi con. Cứ thế đứa thứ 2, thứ 3.... 5 ra đời. Lão xác định gia đình định cư luôn ở đây.

VNCH thất thủ. Anh em đơn vị Lão chạy sang bến Kiên Giang. Họ hẹn nhau đúng 2 giờ sáng có mặt ở chân cột đèn hải đăng để ra đi. Trong thâm tâm Lão cũng muốn lắm. Cái mong muốn của một người Cha lo con mình sẽ sống sao trước ách thống trị của cộng sản. Còn tương lai của chúng nó. Rồi thì búa rìu dư luận cộng sản có bóp chết chúng không? Học hành ra sao.... Trời ơi ! Lão làm sao đây.
Nhưng biển nước mênh mông , đường tới đích thì đơn vị Lão cũng chưa ai biết. Họ chí biết không phải sống với cộng sản là được rồi. Trong họ chết còn sướng hơn làm nô lệ. Họ đúng. Nhưng Lão càng đúng. Lão không thể đem năm người con phó mặc cho biển lớn , lương tâm không cho phép Lão làm thế.

Nhưng thời gian quá ngắn buộc Lão phải ra quyết định. Nếu ở lại thì Lão cũng có tội với những đứa con lão. Chúng nô lệ, chúng ngu muội, chúng bị đoạ đày cũng do Lão.

Suốt cả buổi chiều nay Lão cứ cầm lấy chai rượu uống ừng ực. Nhưng sự sống chết nó còn mạnh hơn bất cứ loại tân dược nào. Lão cứ uống, nhưng Lão không say được, hay nói đúng ra là cái đầu Lão không cho Lão say. Nó bắt lão càng phải tỉnh.
Khoảng chiều tối sau khi đã làm hết hai chai rượu và ba cái khô mực. Lão ra quyết định.

Mẹ mầy ơi...! Lão gọi lớn.

và khi đã thấy thấp thoảng cái bóng vợ Lão sau vườn thì Lão lại tiếp.

Mẹ Mầy gọi thằng Hai với con Chuột xếp quần áo đi.

Xong Lão thủ thỉ.

Mình nè. Tui tính thế nầy !

Tui gởi thằng Hai và con Chuột cho chú Sáu.

Trong đơn vị tui. Chú ấy tính tình đôn hậu, trung trực. Thuộc hạ tui tui biết. Vợ chú ấy cũng hiền hậu. Lại hiếm muộn, nên tui gởi hai đứa lớn nhà mình nhờ chú ấy trông nom.
Đường sã xa xôi, nguy hiểm bội phần nên tui không thể đem tất cả đi để mạo hiểm. Hai đứa nó cứng cáp hơn thì tui đỡ lo hơn. Tui sẽ ở lại để lo cho 3 đứa còn lại. Nếu đi lọt thì tính tiếp. Với lại thời gian nguôi ngoai chúng nó tự tìm về với nhau. Mình là cha là mẹ mình nên tính thế bà ghĩ đúng hông.

Chờ hồi lâu. Không thấy vợ trả lời. Lão gắt. Hay Bà muốn đi.?

Chị vợ trả lời trong tiếng nấc:

Tui ở nhà.
Nhưng cho chúng nõ đi tui hông nỡ.
Nguy hiểm lắm .

Lão gắt:

Biết thế nào là nguy hiểm !
Tui với bà nhiều phen hành quân cũng nguy hiếm đấy thôi.
Với lại nếu để ở nhà biết đâu còn nguy hiểm hơn. Cộng sản nó tha không. Hay là cả nhà đi tù. Con cái được cho ở biệt lập, để nhồi sọ...

Tui biết cái rũi ro nên tui mới gởi hai đứa nhớn. Coi như năm mươi năm mươi, nếu ở nhà mà sung sướng hơn thì ba đứa ở nhà sẽ hổ trợ hai đứa ở xa và ngược lại . Còn nếu bị bức tử thì chúng ta cũng còn hai đứa đã may mắn thoát được . Mà mình không còn định hướng nào hay hơn. Tui tính thế là hết khả năng rồi. Trách nhiệm làm cha buộc tui phải tính thế bà ạ. Mong sao bà hiểu.

Buổi chiều tối hôm ấy Lão chở hai người con đi qua nhà chú Sáu.

Hội nghị Diên Hồng về cái lưỡi bò 10: tiep theo

Chấn thương tâm lý củng bắt đầu từ. Nam tỉnh dậy đã thấy mình nằm ở phòng điều dưỡng của bệnh viên 108. Sau hơn hai tháng hôn mê và lần được được chuyển qua các bệnh viện từ Huế ra đây. Nên nhớ Nam là một sĩ quan rất giỏi, một trí thức chính quy không phải loại trí thức chạy xô của thời loạn. Anh nói thông viết thạo Pháp ngữ, Anh ngữ... Đã lên tới cấp tá.

Sau một tuần tỉnh lại Anh xin phép về thăm quê. Thăm cái nơi chôn rau cắt rốn, thăm mẹ già lưng còng quanh năm còm cõi, thăm vợ hiền cả tổi thanh xuân ngóng đợi, chờ mong. Để rồi cái tuổi đó cũng theo thời gian trôi đi vào dĩ vảng.

Chiếc xe dừng lại ngay đầu con đường nhỏ dẫn vào nhà Anh. Anh chạy vội về nhà, bỏ mặc mùi hương của cảnh đồng lúa đang đến mùa thu hoạch, mùi thơm hương quê yêu dấu đã từng gắn chặt với cuộc đời Anh. Anh chạy vội đến cống, chiếc cổng làm tạm bợ với những thanh tre chặt vội, đan chéo một cách tạm bợ để ngăn không cho trâu bò vào phá rau. Nổi nhớ vợ lúc nầy đã đến đính điểm. Anh nhảy tót qua cổng rào, cú nhảy của một sĩ quan chính trị tham gia trinh sát giờ đây mới được sử dụng cho riêng con người Anh. Anh chạy nhẹ như mèo, nhanh như báo về phía cảnh cửa chính. Chợt Anh khựng lại:
Tiếng gì nghe thoang thoảng, lúc mạnh lúc nhẹ. 

Bằng phương pháp nghiệp vụ Anh nhận ra đó là tiếng rên của một người đàn bà. Nhẹ nhàng, rón rén, khẻ liếc vào khe hở của hai tấm phên tre. Anh Bàng hoàng sứng rốt.

Ngay giả gian chính, trên cái sập gổ truyền kỳ. Vợ Anh và Lão bí thư xã đang làm cái "công tác" XHCN. Đích thị tiếng rên vừa rồi là của mụ. Hai cơ thể trần như nhộng, đang quằn qoại, quấn chặt như hai con rắn đến kỳ động đực. Một con phát ra âm thanh riên rĩ theo nhịp của cái dùi trống, con còn lại phát ra tiếng phì phì như trâu bị chọc tiết.

Chúng đổi tư thế : Hai tay Lão bí thư nắm chặt hai cái nắm cửa suy dinh dưỡng của mụ vợ Nam véo mạnh, rà soát... Chúng đang làm động tác cào bằng vùng cao, lấp đầy thung lũng theo chủ trương của đảng ...

Nam không còn kịp nghĩ gì nữa Anh chạy vội đi. Anh đã đi theo đảng, đã dâng cho đảng cả tâm hồn, thể xác, một cảnh tay... Nhưng giờ đây đảng còn xin thêm Anh cả vợ.

Cơn đau đầu lại ập đến. Hình ảnh vua Hùng lại hiện ra. Một bóng con voi trắng xuất hiện. Một giọng nói trầm hùng thương cảm như dặn dò.

Thôi con ạ. Con hơn người khác là đã chứng kiến cảnh sinh ra. Rồi đây con cũng sẽ chứng kiến cái tận diệt.

Cũng từ đó một người điên xuất hiện. Cái hình dáng trần truồng vừa đi và thét 

Ta càng phải sống! 

Ta càng phải sống! ...........

Mây chiều u ám, bóng Lão điên đang tiến dần theo quốc lộ 1 A hướng Bắc Giang về Hà Nội. 

Chiều nay trên đài " ra đi ô " phát ở băng tần FM đưa tin : 

" Các tài xế chú ý, trên đoạn Bắc Ninh về Ninh Hiệp có một người điên đang tiến bộ giửa đường , các lái xe nên chạy chậm và tìm hướng tránh.... "

Có Lão xế tài ác miệng còn nói :

Lão đi tìm ông Minh râu.....


Sống trong hy vọng:

Cũng trong buổi chiều ám đạm ấy. Cách xa nơi người điên kia đang tiến bước hàng ngàn cây số. Một cụ già gầy ốm, mặc áo bà ba nâu, đầu quàng khăn, tay chống gậy đang lê từng bước nặng nhọc của tuổi già trên đoạn đường từ núi Sập hướng về ngã tư Đèn Bốn Ngọn - An Giang tiến bước.

Thứ Ba, 10 tháng 8, 2010

Đại lễ xá tang của Đức Đệ Tứ Tăng Thống HUYỀN QUANG và cảm nhận về Phật Pháp:

Nhân dịp đại lễ xá tang  của Đức Đệ Tứ Tăng Thống HUYỀN QUANG. Tôi và chị Thu Trâm cùng các vi Thượng Tọa Thích Thiện Minh, Hòa ThượngThích Nhật Ban... Ra Bình Định tham dự đại lễ. Thật bất ngờ khi xe vừa tới Long Khánh, thì chị Thu Trâm nhận được điện thoại với thông tin rất cấp bách về người chiến sĩ can trường bất khuất Trương Văn Sương. Người không bao giờ có sự thoả hiệp nào với chính quyền cộng sản Việt Nam  hiện tại. Điều đó đã được minh chứng khi nói tới thời gian bị cầm tù của Ông, trong khi những người khác đã được thả ra từ nhiều năm trước. Qua đó cho tôi sự khâm phục về tinh thần kiên trung vì tổ quốc, vì chính nghĩa Quốc Gia của Ông. Nghe xong nội dung của cuộc điện thoại, chị Thu Trâm quyết định xuống xe mặc dù xe đã đi được một đoạn của lộ trình. Tôi nhớ chị Trâm đã xuống tại Ngã Ba Dầu Giây để chờ Anh Ngọc Quang, tại đó họ cùng nhau bàn tiếp kế hoạch đi đón người tù bất khuất Trương Văn Sương . Trong khi đó tôi tiếp tục đi ra Bình Định cùng ThầyThích Thiện Minh, Thích Nhận Ban cùng một số đệ tử...

 

Theo chân các vị Hoà Thượng ra Bình Định, trong chuyển đi nầy tôi đã học hỏi được rất nhiều, củng như mục kích  điều mình chưa nhìn tận mắt bao giờ, đó là  cảnh chính quyền tự mình cho phép can thiệp quá sâu vào hoạt động của các tôn giáo. Trong khi hàng ngày qua sách báo và thông tin đại chúng, họ  vẩn cứ hô hào tự do tôn giáo. Có lẽ hơi quá sớm để kết luận như vậy so với nhận thức hạn hẹp của mình, tuy nhiên củng xin tóm lược lại nhân chuyển đi đầy ý nghĩa nầy:



Khi xe chở thầy Thích Thiện Minh cùng chúng tôi đến tu viện Nguyên Thiều, thuộc tỉnh Bình Định để tham dự đại lễ của Đức Đệ tứ Tăng Thống Huyền Quang. Có lẽ chính quyền Việt Nam lo sợ sự xuống đường của các con dân, các phật tử, nên khi xe vừa tới cổng Chùa thì cảnh công an mặc thường phục, quân phục, già có, trẻ có ... đứng chặn cả lối đi. Công an đã cố tình dựng xe gắn máy trên lòng đường, để làm giảm vận tốc các xe vào cổng Chùa. Qua đó họ có thể nhận mặt các " phần tử " mà theo họ là " nổi cộm" , tôi củng không hiểu rõ lắm cái danh nghĩa nầy. Cái từ mà sau đó khoảng 40 phút tôi lân la dưới dạng người lái xe thuê và nghe hai công an mặc dân phục nói chuyện với nhau " Thích Thiện Minh là một người nổi cộm". Họ nhận mặt các vị Đại Sư, Hoà Thượng, Ni Cô ... Khi vào Chùa. Cảnh tượng khác nào một cuộc kiểm tra các em học sinh khi vào lớp học mà hồi xưa tôi đã được học dưới mái trường của nền giáo dục Đại Trí Tuệ.




Công an mặc thường phục có mặt khắp mọi ngóc ngách của sân Chùa, họ là những thanh niên, những phụ nữ ... sẳn sàng đến làm quen, tìm hiểu bất cứ những vị khách, những đoàn xe nào, với nhiều câu hỏi mang đậm tính vô thần vô nhân. Họ là những tên công an mặc quân phục sẳn sàng đến làm việc với những vị hoà Thượng tiếng tăm và địa vị. Bức ảnh dưới đây là một bằng chứng.
Chúng tôi vừa mới dừng xe đã có hai công an mạc thường phục đến hỏi thăm:

- Các Anh từ Sài Gòn đến hả.
- Vâng! Anh tài xế trả lời...
- Anh đi cùng vị hoà thượng nào thế?
- Ngày mai chắc là có nhiều người lắm, chổ nầy làm sao đủ chổ để ôtô, có bổ trí ở ngoài khuôn viên không vậy ?
- Dự tính khi nào thì về ?
- Ngủ tại đây hay ra ngoài ....Những câu hỏi mà đại loại ai củng hiếu, chí một vài người không chịu hiểu.



Hình ảnh Công An mời Thầy Minh Tuấn làm việc.
Tôi lân la tìm một chổ nghĩ mát ở ngôi Chùa đang xây dỡ dang. Nơi hầu hết  các công an mặc dân thường được bố trí, tổ chức như những vị khách ngồi chờ, tụ họp đánh bài ngay trong khuôn viên Chùa, có lẽ vì lệnh của cấp trên nên họ bắt buộc phải đến đây, tổ chức cờ bạc là một biện pháp giết thời gian chăng?.  Đang ngồi hỏng mát thì một người khoảng 40 tuổi đến hỏi tôi:

- Anh đến đây làm gì?
- Tôi là lái xe. Tôi trả lời.
Chúng tiếp tục chuyện trò và bàn tán. Một người cứ đứng nhìn vào khuôn viên Chùa và nói với một người phụ nữ đứng cạnh:
" Trong kia là trường dạy học, nam nữ lẩn lộn. Tu gì mà tu ..."
 
Bản năng hoang dã, chụp giật và xu nịnh cộng với cái ý thức hệ vô nhân đã ăn sâu vào não bộ của họ, để khi cần thì những xung điện trong các nơ-ron thần kinh phát ra những thứ ngôn ngữ sặc mùi xú uế.

Trước chuyển đi tôi được biết Thượng Tọa Thích Quảng Độ đã rất khó khăn khi rời khỏi Chùa, nơi Thượng Tọa đang tu hành. Vì bị công an địa phương gây khó khăn. HÌnh như họ muốn có một sự bảo đảm về mặt trị an - Họ muốn có một sự bảo đảm về tính ổn định của vị thượng tọa đứng đầu Phật Giáo Việt Nam hiện nay. Do đó để đảm bảo về thời gian củng như lộ trình ra Bình Định nên Ngài đã chọn con đường đi bằng tàu hỏa. Trong ảnh là hai công an mặc quân phục đã làm việc với một vị thượng tọa tại CHùa, về việc bố trí, tổ chức an ninh cho ngày lễ.
 

Hầu hết mọi chức sắc Phật Giáo đều tụ tập về đây, hình ảnh đám rước dưới đây cho chúng ta thấy điều đó:


Theo dòng lịch sử dựng nước của dân tộc thì Phật Giáo đã từng là một quốc giáo , một tôn giáo chính tông với tư tưởng rộng khắp, bao trùm mọi lĩnh vực văn hóa - xã hội - quân sự ...Trải dài theo thời gian, là cương lĩnh, là chân lý sống, là tiền đề mà nếu chúng ta vận dụng đúng sẽ cho ta con đường trị Quốc, an Dân.



Củng tại nơi đây, khi xưa nhà tư tưởng lớn, nhà cách mạng tài ba, vị anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi trong một lần đưa tiến vị Đại Sư Đạo KHiêm về núi  " Thống Tăng Đạo Khiêm Quy Sơn" đã nói:
Lâm Kỳ dã diệc thừa thiên.
Cho dù vật đổi sao dời, xã hội có biển đổi như thế nào đi nữa, con dân có bị mê hoặc, mù tối, dị giáo ...Hay những thế lực hắc ám có đủ mạnh, đủ gian manh mà che lấp cả bầu trời thì Nguyễn Trãi vẩn là một Thiền Sư, con đường dân tộc và Thiền định đã cho Ông  bước đi mà không hề lệch hướng. Ngày nay: Những vị Đại Sư tuy không thể đem so sánh với các bậc tiền nhân nhưng cũng có không ít những Thượng Tọa với cái chân tâm thiền tịnh, sự giày vò trong chân tu, sự khổ ải trong ngục tù Cộng Sản... Đã cho họ nhìn thấy, bước đi trên con đường chính đạo, để những khổ nạn trong đời là những chuổi nhân quả, mà khéo biết ta có thể chận đứng:
xét bởi sự qua hay sự đến.
Bao nhiêu nơi nhục bởi nơi vinh.
Chắc rằng sự tụ họp về đây để tưởng nhớ, để cầu xin,...  và những hình ảnh đông đủ đã phần nào sưỡi ấm, đem đến cho các Phật Tử, con dân ngọn lửa tình yêu, tình đoàn kết và quan trọng nhất vẩn là sự khẳng định vị thế trường tồn của Phật Pháp, Phật Giáo theo dòng thời gian.
Khí thế đó không động, rất tỉnh lặng ... Nhưng công năng rất lớn để yêu ma cùng lũ thù địch hết sức run sợ, khiếp đảm ... Gây cho chúng cái bất an, cái khó ngủ ... để tìm chút an tâm chúng tìm cách ly giản, răn đe, khích lệ và mua chuộc cả nhân... Chúng kìm tỏa, chốt chặt các vị trí, đối tượng xung yếu ... Hình ảnh dưới đây cho chúng ta thấy cảnh các công an mặc thường phục đứng cùng một vị trí trong thời gian hai ngày.

Xin mạn phép trích dẫn quốn Nguyễn Trãi tâm thức và hành động khi nói về Phật Pháp:

 Kẻ sống giữa rừng Thiền thì mọi sự đều đầm ấm, giao hòa dù cho trở ngại hoạc khó khăn. Bền lòng, kiên trì mới thành đấng trượng phu:
Khó bền mới phải người quân tử.
Mạnh gắng thì nên kẻ trượng phu.

Những hình thức áp bức, lừa đảo và chia rẽ, hay xây dựng một hệ thống tôn giáo phục vụ một chế độ vô thần, một kiểu tôn giáo đậm mùi mê tín, xa ròi Phật Pháp đều là những trò ảo hóa không lâu bền:

Làm người mã cậy khi quyền thế.
có thủa bàn cờ tốt đuổi xe.

Nhân dịp đi cùng thượng Tọa Thích Nhật Ban, Thượng Tọa Thích Thiện Minh ... TRong tôi như ngộ ra một chân lý một ý thức mới, cái suy nghĩ đi vào dòng tự nhiên, thuận thiên mà đắp đổi việc đời, cho tới khi thành tựu sứ mệnh con người là một cuộc hiến sinh trên ba phương thức hành động:

Thực tại - chuyển hóa thực tại - tiếp ứng thực tại.

Tôi cảm nhận được sự thức tỉnh trong các vị và rồi qua hai câu sau:

Kẻ thời nên bụt kẻ nên tiên
Tượng thấy ba thân đã có duyên
Bành được, Thương thua con tạo hóa
Diều bay cá nhảy đạo tự nhiên.

Cái thế  thời, thời thế theo dòng con tạo hóa. Nhưng Phật Pháp và chân tu mãi mãi vẩn là Phật PHáp và chân tu. Để rồi trên con đường chân tu đó Việt Nam lại một lần nữa nhận thấy, nghiệm ra .. Dựa trên những sinh thức và hành động và qua sự kiên định, Thiền định của các vị đại Lão Hòa Thượng, các phật tử, con dân  sẽ dứt khoát với bọn quan lại tham nhủng, tẩy chay những người đi trái với Phật Pháp, cảnh cáo những triều chính hư hèn ... Qua họ thái độ yêu thương, sự phụng sự đối với sinh dân đang bi áp bức sẽ được thể hiện, được che chở bở các vị chân tu. Đưa đến sự phá sản của bọn chính trị sâu dân mọt nước nơi cung đình.

Bình Định ngày15/7/2010
Trần Văn Huy

Thứ Tư, 21 tháng 7, 2010

Tuổi trẻ VN nghinh đón Đại úy VNCH Nguyễn Anh Hảo:

Trich theo nguon: Radio Free Vietnam 


Tuổi trẻ VN nghinh đón Đại úy VNCH Nguyễn Anh Hảo


Vào ngày 18/7/2010, ngay khi được tin bạo quyền CsVN phải trả tự do cho Đại úy VNCH Nguyễn Anh Hảo, bốn chúng tôi gồm 2 cựu tù chính trịlà anh Nguyễn Ngọc Quang, anh Nguyễn Bắc Truyển, chiến sỹ dân chủ Nguyễn Thu Trâm và cá nhân tôi - Trần Văn Huy, đã cấp thời cùng nhau đến Lâm Đồng để trân trọng nghinh đón ông.
Ông Nguyễn Anh Hảo đã bị giam cầm 2 lần, tổng cộng 20 năm ròng rã trong lao ngục khủng khiếp ghê rợn nhất trần gian là những trại tù cải tạo của chế độ Việt cộng. Hai lần chế độ hung tàn bạo ngược này tuyên án ông chỉ vì ông Hảo yêu chuộng và quyết bảo vệ các giá trị của loài người văn minh là Tự do - Công lý - Bình đẳng. Bản án lần thứ hai  3 năm tù giam, chấm dứt vào lúc 15 giờ ngày 17/7/2010, cho đến bấy giờ Đại úy Nguyễn Anh Hảo mới được tạm tha để trở về với vợ con tại Bảo Lộc - Lâm Đồng.
Chắc chắn mấy giòng ngắn ngủi nầy không thể nói hết các thành tích cùng những hy sinh cao cả Ông đã đóng góp cho sự nghiệp phụng sự dân tộc; Đại úy Hảo đã cống hiến cả một đời tài trai cho 2 nền đệ nhất và đệ nhị VNCH, rồi sau đó Ông lại tiếp tục đóng góp rất nhiều công lao có giá trị nền móng cho một nền Cộng Hoà mới sau nầy của dân tộc Việt Nam
Niềm vinh hạnh và nỗi xúc cảm chuyển động mãnh liệt trong mạch sống khi chúng tôi được đón mừng Đại úy Nguyễn Anh Hảo. Những giờ phút đầu tiên người con trân qúy của Mẹ Việt Nam vừa ra khỏi ngục tù nhỏ của bạo quyền ấy, tại tư gia của Ông, bốn anh chị em chúng tôi chẳng có gì ngoài bó hoa đơn sơ khiêm tốn dâng tặng để bày tỏ lòng ngưỡng phục và tri ân đối với một bậc cha anh khả kính đã tận trung báo quốcvà những giọt nước mắtnhiệt thành của chúng tôi trào ra vì xúc động trong cuộc hội ngộ với Ông.


Vị anh hùng Nguyễn Anh Hảo tóc bạc, tay run khi tiếp nhận bó hoa chị Nguyễn Thu Trâm thay mặtchúng tôi dâng tặng. Đôi mắt có mày rậm đã bạc trắng nhưng trông rất tinh anh và nghị lực bỗng rưng rưng vì xúc độngxúc động bởi lòng phấn chấn khi Ông thấy đại cuộc tranh đấu cao cả mà mình đã xả thân hy sinh bao chục năm qua nay đang được các thế hệ con cháu nối bước. Thực vậy, đại cuộc tranh đấu cho chính nghĩa của dân tộc, cho quyền sống của muôn triệu đồng bào còn đầy chông gai nhưng theodòng thời gian nó đang mỗi ngày được nhân rộng sự tham gia của các lớp hậu sinh.
Giọt nước mắt xúc động lăn trên má Đại úy Nguyễn Anh Hảo nhưng đồng thời lòng Ông lại tràn trề niềm hưng phấn là như thế… Quên hết những ngày lao tù cùng khổ, quên hết cái bệnh tật già yếu, Ông đĩnh đạc bước tới ôm lấy chúng tôi, xiết chặt vòng tay như để trao truyền lại cho chúng tôi tất cả dũng khí và tinh thần bất khuất bạo quyền cùng niềm tin sắt đá vào sự tất thắng trong sứ mạng vinh quang cao cả: Giải trừ Quốc nạn Để Thăng hoa Dân tộc Việt Nam.

Trong cuộc trò chuyện tôi được biết thêm: Suốt những năm tháng sống trong lao ngục cộng sản là những tháng năm Ông đấu tranh không ngừng nghỉ. Thời chiến tranh bảo vệ Miền Nam tự do thì mạng sống nhiều lúc tính bằng giây. Hay cụ thể là để giành giật từng giây giữa sự sống và cái chết. Còn trong lao tù CS thì đó là một sự đấu tranh chống bạo quyền, chống tra tấn, đòi quyền cơ bản của con người, đấu tranh chống sự lao động bóc lột hà khắc, nhịn ăn để có được một sự tự do nhỏ nhoi, đấu tranh đòi vệ sinh, đòi đủ khẩu phần ăn…
Nghe Ông kể mà tôi không khỏi rùng mình kinh hãivóc dáng mình đã là nhỏ con nhưng so với Ông thì Đại úy Nguyễn Anh Hảo còn gầy gò ốm yấu hơn tôi nhiềuTuy nhiên, Ông có một nghị lực phi thường mà nếu đem so sánh với Ông, tôi không khỏi cảm thấy hổ thẹn.
May thay, bên cạnh tôi còn có chị Nguyễn Thu Trâm, một phụ nữ cũng nhỏ bé vóc dáng và kiến thức cùng kinh nghiệm nhưng đang hàng ngày xả thân tranh đấu xây dựng nền dân chủ tự do đích thực cho dân tộc Việt Nam. Chị Trâm cũng ra đời sau ngày quốc nạn 1975 như tôisinh ra trong thời kỳ tăm tối nhất lịch sử Việt Namsống bằng những bcơm không đáng gọi là bữa ăn của cái thời gọi là bao cấp, học hành thì dưới cái gọi là mái trường xã hội chủ nghĩa, một thứ học đường uốn nắn nhồi sọ học sinh theo văn hóa búa liềm phản văn minh, phi nhân tính..để rồi từ đó nhìn thế giới toàn bằng ánh mắt gian trá hận thù. Trong bóng đêm CS ấy chúng tôi đã phải tìm đường tự cứucứu nhân phẩm của chính chúng tôi và cả của các thế hệ sinh sau chúng tôi; mà trước hết là chúng tôi phải tranh đấu để cứu dân tộc khỏi đại nạn xâm lược đồng hóa của Hán cộng. Chúng tôi phải đứng lên để đòi quyền làm người, đứng lên để nói sự thật, chúng tôi phải vạch trần, phải phơi bày tất cảnhững sai trái, những áp bức bóc lột, những hành động buôn dân bán nước của đảng và nhà nước CS này… cho dù nhất thời chúng tôi chưa đủ khôn ngoan và dày dạn kinh nghiệm để có thể hoạch định một phương thức đấu tranh ưu việt bảo đảm thắng lợi hoàn toàn.



Dù tuổi trẻ Việt Nam chúng tôi chưa một lần nhìn thấy kết quả vinh quang rực rỡ mà một quốc gia đạt được nhờ sinh hoạt trong tinh thần tự dodân chủnhưng qua Đại úy Nguyễn Anh Hảo, qua các Anh Chị đang xả thân tranh đấu cho lý tưởng Dân chủ Nhân quyền, chúng tôi càng ngày xác tín mãnh liệt là các điều tốt lành thiện hảo của chế độ Dân Chủ Tự Do chắc chắn sẽ được thực hiện trên quê hương Việt Nam trong nay mai.
Có thể còn nhiều người dân Việt Nam chưa hình dung ra những điều tốt đẹp do sinh hoạt Tự do Dân chủ tạo ra nên chưa biết khao khát Tự do Dân chủthậm chí còn khinh rẻ, chà đạp nguyên tắc sinh hoạt Tự do Dân chủ, mù quáng a dua xu nịnh chế độc tài CS để nó giết hại dân tộctrong đó có chính bản thân mình.
Nhưng dẫu cho hiện thực ê chề là như thế chăng nữa thì đất Việt vẫn luôn không thiếu những anh hùng hào kiệt, những sĩ phu, những tuổi trẻ đầy nhiệt tâm và trong sáng đứng lên, sẳn sàng xả thân hy sinh cho đại cuộc tranh đấu giành quyền Tự do Dân chủ về tay Quốc dân để đưa đất nước thân yêu tiến lên.
Không bao giờ là uổng phí những hy sinh, những mất mát của Đại úy Nguyễn Anh Hảo và của các bậc anh hùng hào kiệt nam nữ đã cung hiến trong cuộc tranh đấu vì dân chủ tự do của Việt Nam. Những hy sinh, nhựng cống hiến đó sẽ là ngọn đuốc, là tấm gương cho tuổi trẻ và con cháu VN chân chính noi theo. Noi theo để cùng chung xây một nền Cộng Hoà mới. Tôi tin chắc rằng sự hinh sinh đó sẽ mãi mãi đi vào lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Tổ quốc Việt Nam sẽ muôn đời ghi ơn các vị. Xin mạo muội thay mặt thanh niên Việt Nam, đặc biệt là thay mặt con cháu của qúy vị Quân Cán Chính VNCH xin kính chúc Đại úy Nguyễn Anh Hảo nhiều sức khoẻ và đoá hoa tâm hồn trang trọng nhất.
Đà Lạt, ngày 17/7/2010

Trần Văn Huy và Thu Trâm