Với mong muốn tìm hiểu cuộcsống của những người Việt tị nạn tại Thái nên tác giả đã viết về những cuộc đờicủa họ, sau khi được nghe những lời thổ lộ, tâm tình và hoàn toàn đã được sự đồngý, cho phép của các cả nhân cũng như gia đình họ. Được mô tả lại dưới đây:
1. Những người lính già sót lại.
Tôi tình cờ gặp ông khi vừachân rướt chân ráo tới ThaiLand. Trong cái cảnh còn ngỡ ngàng trước sự văn minhhiện đại của đất nước phát triển Chùa Tháp, khi trong người không một cắc bạc đểnuôi thân. Cũng trong cái hoàn cảnh ấy tôi đã thầm cảm ơn sự sắp đặt của đất TốiThượng, tôi đã gặp được những người cùng chí hướng, cũng nhờ họ tôi đã có chổdung thân, đã tìm được việc làm… Mà giờ đây trong tôi vẫn luôn thầm cảm ơn vàmong cho họ đến được bến bờ tự do thật sớm.
Thật tình cờ, ngày đi làm đầutiên, tôi đã gặp ông. Một Ông già! với dáng người khẳng khiu, nước gia rám nắng,tóc đã bạc, răng đã rời… Nhưng vẫn có đôi mắt tinh anh và sáng rực.
Thailand đến mùa lũ, ngườingười nhà nhà hổi hả, thúc giục nhau, kẻ tìm cách nâng đồ đạc lên cao, ngườitìm cách xây tường chắn nước, nhà kia rục rịch chuyển nhà ra khỏi vùng lũ tới,hàng xóm hổi hả kéo nhau thu gom mì tôm và nước suối… Dân Thái đang hoang mangvới đợt lũ mới mà hơn nữa thế kỷ giờ đây mới gặp.
Cánh thợ xây chúng tôi (nóilà thợ thế thôi chứ ở VN tôi chưa bao giờ cầm “bay”, hôm nay tôi là phụ hay dânở đây gọi là Culi) cũng hối hả theo yêu cầu của chủ và theo tâm lý chung củaBangKok lúc này. Mồ hôi chảy ra như tắm, làn da rát buốt vì chưa quen lao độngnặng trước sức nặng của những chồng gạch mà mỗi viên to gấp 4 lần gạch đất ở ViệtNam. Có lẽ do bầu khí gấp rút nên chúng tôi hì hục làm việc và quên luôn cái mệtnhọc của mình.
Nhưng trong bầu khí đó, ÔngGià vẫn cứ âm thầm, chậm rãi làm việc một cách từ tốn và cẩn thận. Thấy mọi người có vẽ khó chịu với cách làm việccủa ông, tôi lân la đến hỏi chuyện. Ông nói với tôi bằng ảnh mắt của người chúđã trãi qua nhiều sóng gió cuộc đời.
“Cháu biết không. Người chủ nhà bỏ tiền ra xây và cũng mong muốn bức tườnggiá chiến này sẽ chịu đựng được, và một điều quan trọng nữa là không thấm nước.
Tronglúc đó thì chủ thầu lại muốn làm nhanh để thu tiền và rút cho sớm, hầu đến làmcho nhà khác.
Làngười sống có trách nhiệm với chính mình, và với xã hội thì chúng ta phải làmtheo lương tâm, nhận những gì xứng đáng là của ta.
Chúngta đã chạy khỏi Cộng Sản, thì chúng ta cũng không nên mang theo lối suy nghĩ hẹphòi của Cộng Sản theo mình được. Vì khi chúng ta còn nó, thì tư tưởng và “tưduy” cộng sản vẫn còn, và các thế hệ tiếp nối sẽ tiếp tục chịu đựng nó… Lấy gìđể chúng ta xây dựng một Xã Hội thanh bình và công bằng như ước muốn của chúngta.”.
Câu chuyện hôm đó chỉ có thế,nhưng qua câu trả lời ngắn ngũi đó làm tôi rất kính phục con người này. Nhữngngày tiếp theo, hai Chú cháu tâm sự, và nghe ông kể về cuộc đời. Cuộc đời của mộtngười lính chiến, một người lính thiết giáp – QL VNCH, có lẽ là người Lính, người Thương Phế Binh cuối cùng còn sótlại trên đất Thái này.
Câu chuyện của người línhgià ấy:
Ông có cái tên đẹp KiênViên. Sinh ra tại Trà Vinh và nhập ngũ ngày 3/3/1972 là quân nhân binh chủngThiết Giáp đoàn 22 chiến xa, M48 Quân Lực VNCH. Mang số quân -75/10615 –KB3573,có căn cước quân nhân 56/640835. Bị thương vì trúng phải mảnh của đạn pháo. Sauthất thủ bị nhà nước Cộng Sản Việt Nam đưa đi tù và cải tạo vào những năm năm1976 -1980. Được thả tự do năm 1980. Hiện đang tị nạn tại Thailand.
Trong khoảng thời gian mõimòn chờ tới bến bờ tự do (nước thứ ba), gia đình ông đã trãi qua muôn vàn sónggió, với bản tính khẳng khải, bộc trực pha chút tuềnh toàng cộng với những bảntính vổn có của một người Miền Tây, nên gia cảnh rất khó khăn và thiếu thốn.
Khi tới Thái gia đình có 5thành viên, ông có hai trai và một gái. Vì mưu sinh, một mình ông đã phải làm đủthứ việc như xây tường, lượm rác, ai bảo gì làm nấy, miễn sao cho cái gia đỉnhnhỏ tồn tại đến ngày tới được bến bờ tự do.
Nhưng có lẽ người con gái đãcảm cảnh trước tấm thân gầy, nên cô ấy cũng tìm kế sinh nhai. Nhằm gia đình cóthem chút tiền trang trãi cuộc sống,và người cha già bớt khổ. Nhưng trời vổn hayđùa với lòng người nên những tháng ngày lao động cực khổ và đợi chờ trong vô vọng,đứa con gái duy nhất đã ngã bệnh hiểm nghèo. Số tiền gia đình mang theo từ ViệtNam đã cạn, nên ông đành đưa con gái trở về Nam Vang – Cambodia, vào chữa trị ởbệnh viện miễn phí nơi dành cho người vô gia cư và người chờ chết.
Nhìn những tháng ngày con hấphối, thân cha già biết làm sao đặng, những giọt nước mắt lăn dài trên gò má củangười lính già vốn can trường trước làn đạn địch, nhưng cũng không thể cầm nổitrước nối đau của chính đứa con mình. Rồi cũng đến ngày đứa con gái ông ra đi,mang theo một nối đau và một khoản nợ mới…
Kể tới đây, ông dừng lại vàtự rót cho mình một chung rượu và cạn chén. Tôi biết ông đang cố giấu đi cảmgiác của mình. Nhưng đôi mắt đỏ hoe và tối sập vì tuổi già làm sao che kín đượcnổi đau lớn nhất cuộc đời.
Lá già chưa rụng nhìn làxanh kia rụng rồi!
Một chiếc lá già, với thânmình mang đầy thương tích vì những viên bi từ trái bomb hay đạn pháo, giờ đây vẫnđang cố đứng vững trên đôi chân teo tóp vì hai đứa con chưa trưởng thành, cùngngười vợ bệnh tật.
Ngồi nói chuyện với ông, vàăn những sợi mỳ tôm còn sót lại trong mùa lũ. Loại mỳ của quân đội Thái trợ cấpcho vùng lũ lụt… Tôi thầm ái ngại cho những ngày sắp tới của ông và gia đìnhông.
Bến bờ tự do ai cũng muốn đến,nhưng ít người suôn sẽ có được nó mà không phải trả giá gì… Nghĩ tới đây tôi thầmlo cho chính mình trong những ngày sắp tới.
Không biết nơi phương trời tựdo xa xôi đó, có những đồng đội, chiến sĩ nào… đã chiến đấu cùng ông, hay là biếtông chăng. Tôi cầu mong sao khi họ ăn cơm, uống rượu… Hãy nhớ tới những ngườichiến sĩ, đồng đội còn sót lại trên quê hương, trên nẻo đường tị nạn, nhữngthân mình khiếm khuyết vì bom đạn của cộng sản, đang ngày đêm tìm kiếm sự sống,lòng vẫn mong ngày trở lại như: một NguyễnCung Thương, sống trong căm hờn và tủi nhục. Như một Kiên Viên cố đứng thắngtrong dòng đời héo hắt…
Còn tiếp
BangKok, 21/12/2011
Lý Đông: Trần Văn Huy
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét